Kinh doanh hàng không rõ nguồn gốc bị phạt từ 300.000 đồng đến 50 triệu đồng
Điều 17 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, đã được Nghị định 24/2025/NĐ-CP sửa đổi, phạt kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ từ 300.000 đồng đến 50 triệu đồng theo giá trị hàng, gấp đôi trong một số trường hợp. Hóa đơn, hợp đồng, tờ khai hải quan nằm trong các căn cứ chứng minh nguồn gốc.
- 11 tháng 10, 2026
- Ban Biên tập ACT
- 5 phút đọc
Khoản 13 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ định nghĩa hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ là hàng hóa lưu thông trên thị trường không có căn cứ xác định được nguồn gốc nơi sản xuất hoặc xuất xứ của hàng hóa. Hành vi kinh doanh loại hàng này bị xử phạt tại Điều 17 của Nghị định.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/10/2020. Nghị định 24/2025/NĐ-CP ngày 21/2/2025, có hiệu lực cùng ngày, sửa đổi tên Điều 17 và một số khoản của điều này.
Giấy tờ nào là căn cứ xác định nguồn gốc
Theo khoản 13 Điều 3, căn cứ xác định nguồn gốc nơi sản xuất hoặc xuất xứ gồm thông tin thể hiện trên nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa và tài liệu kèm theo hàng hóa. Văn bản cũng nêu chứng từ chứng nhận xuất xứ, hợp đồng, hóa đơn mua bán và tờ khai hải quan, cùng các giấy tờ khác chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với hàng hóa.
Danh mục căn cứ còn gồm giao dịch dân sự giữa tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa với bên có liên quan theo quy định của pháp luật.
Định nghĩa lấy việc có hay không có căn cứ xác định được nơi sản xuất hoặc xuất xứ làm tiêu chí. Các loại giấy tờ trên là những căn cứ mà Nghị định liệt kê, nên cơ sở kinh doanh cần lưu giữ chúng theo từng lô hàng nhập về.
Mức phạt theo giá trị hàng hóa
Khoản 1 Điều 17 quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ khi hàng vi phạm có giá trị dưới 1.000.000 đồng.
Các khoản 2 đến 11 tăng mức phạt theo giá trị hàng. Hàng có giá trị từ 1.000.000 đồng đến dưới 3.000.000 đồng bị phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Hàng từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng bị phạt từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Hàng từ 100.000.000 đồng trở lên bị phạt từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Mức phạt trong Chương II của Nghị định là mức áp dụng với hành vi do cá nhân thực hiện. Khoản 4 Điều 4 quy định hành vi do tổ chức thực hiện bị phạt gấp hai lần mức quy định đối với cá nhân. Theo khoản 2 Điều 2, hộ kinh doanh được thành lập theo quy định của pháp luật bị xử phạt như đối với cá nhân.
Giá trị hàng vi phạm được xác định theo Điều 5, dựa trên một trong các căn cứ theo thứ tự ưu tiên tại khoản 2 Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Khi không áp dụng được các căn cứ đó, người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc có thể tạm giữ tang vật và thành lập Hội đồng định giá.
Nhóm hàng bị phạt gấp đôi
Khoản 12 Điều 17 quy định phạt tiền gấp hai lần mức ở các khoản 1 đến 11 đối với người sản xuất, nhập khẩu thực hiện hành vi vi phạm, hoặc khi hàng hóa vi phạm thuộc một trong ba nhóm.
Nhóm thứ nhất gồm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, thuốc phòng bệnh và thuốc, nguyên liệu làm thuốc, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế.
Nhóm thứ hai gồm chất tẩy rửa, hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng và diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi, thuốc thú y, phân bón, xi măng, chất kích thích tăng trưởng, giống cây trồng, giống vật nuôi, giống thủy sản và thức ăn thủy sản. Nhóm thứ ba là hàng hóa khác thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục
Khoản 13 Điều 17 quy định hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật vi phạm, trừ trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả ở điểm a khoản 14.
Khoản 14 quy định các biện pháp khắc phục hậu quả gồm buộc tiêu hủy tang vật vi phạm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Nghị định 98/2020/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 17/2022/NĐ-CP và Nghị định 24/2025/NĐ-CP. Khi áp dụng cho từng trường hợp, người kinh doanh cần đối chiếu toàn văn các văn bản này trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
Ảnh đại diện của bài là ảnh minh hoạ do AI tạo.
Nguồn tham khảo
- Cổng thông tin điện tử Chính phủ (chinhphu.vn) — Nghị định số 24/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP
- caselaw.vn (toàn văn Nghị định 98/2020/NĐ-CP) — Nghị định 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Bài viết liên quan
Từ 1/1/2027, chủ quản nền tảng thương mại điện tử phải xác thực điện tử danh tính người bán và người livestream
Nghị định 248/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chủ quản nền tảng thương mại điện tử thực hiện xác thực điện tử danh tính người bán và người livestream bán hàng kể từ ngày 1/1/2027, trong khi Nghị định có hiệu lực từ 1/7/2026.
Đơn nhãn hiệu được thẩm định trong 5 tháng, nộp qua VNeID miễn lệ phí đến hết 2026
Theo Cục Sở hữu trí tuệ, đơn đăng ký nhãn hiệu công bố từ ngày 1/4/2026 được thẩm định nội dung trong 5 tháng, công bố trong 1 tháng và nhận phản đối trong 3 tháng theo Luật số 131/2025/QH15. Từ 1/4 đến hết 31/12/2026, người nộp đơn qua ứng dụng VNeID được miễn lệ phí nộp đơn và lệ phí cấp văn bằng theo Thông tư 29/2026/TT-BTC.
DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG LƯU Ý PHÁP LÝ KHI XIN CẤP CHỨNG NHẬN ISO
Chứng nhận ISO đang trở thành một công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp chuẩn hóa hệ thống quản lý, nâng cao uy tín trên thị trường. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp vẫn hiểu chưa đúng về tính tự nguyện, quy trình thực hiện cũng như cách lựa chọn tổ chức chứng nhận phù hợp. Để làm rõ những vấn đề pháp lý xoay quanh việc xin cấp chứng nhận ISO, Luật sư Hà Thị Khuyên, Văn phòng Luật sư Nhân Chính, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, đã có những chia sẻ, phân tích cụ thể.