Bỏ qua điều hướng

Nguyên liệu nhập khẩu từ nước RCEP chỉ được cộng gộp xuất xứ khi có chứng từ xuất xứ RCEP

Theo hướng dẫn của Bộ Công Thương, nguyên liệu có xuất xứ của nước thành viên RCEP chỉ được cộng gộp khi xác định xuất xứ thành phẩm nếu đáp ứng quy tắc xuất xứ RCEP và có chứng từ chứng nhận xuất xứ kèm theo. Căn cứ cộng gộp là Điều 7 Thông tư 05/2022/TT-BCT.

  • 20 tháng 10, 2026
  • Ban Biên tập ACT
  • 4 phút đọc

Bộ Công Thương đăng ngày 12/10/2026 bài hướng dẫn doanh nghiệp Việt Nam khai thác quy tắc cộng gộp xuất xứ của Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

Hiệp định được ký ngày 15/11/2020 giữa mười nước ASEAN và năm nước đối tác gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand, có hiệu lực từ ngày 1/1/2022.

Quy tắc cộng gộp xuất xứ

Trong các hiệp định thương mại tự do, cộng gộp là quy tắc cho phép cộng các thành tố của hàng hóa như nguyên liệu, công đoạn sản xuất có xuất xứ tại các nước thành viên khác nhau. Nguyên tắc cộng gộp trong RCEP được quy định tại Điều 7 Thông tư số 05/2022/TT-BCT, theo bài của Bộ Công Thương đăng ngày 6/8/2024.

Theo đó, nguyên liệu có xuất xứ của một nước thành viên được coi là nguyên liệu có xuất xứ khi dùng để sản xuất hàng hóa ở nước thành viên khác. Toàn bộ trị giá nguyên liệu này được tính khi xét xuất xứ RCEP của hàng hóa xuất khẩu.

Điều kiện để nguyên liệu được cộng gộp

Quy tắc cộng gộp không áp dụng tự động đối với mọi nguyên liệu nhập khẩu từ các nước thành viên. Chỉ nguyên liệu đáp ứng quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa của RCEP và có chứng từ chứng nhận xuất xứ tương ứng mới được cộng gộp khi xác định xuất xứ cho thành phẩm, theo Bộ Công Thương.

Bộ Công Thương nêu ví dụ hàng hóa X sản xuất tại Việt Nam từ ba nguyên liệu. Nguyên liệu A nhập khẩu từ Nhật Bản đáp ứng quy tắc xuất xứ RCEP và có chứng từ chứng nhận xuất xứ. Nguyên liệu B nhập khẩu từ Trung Quốc đáp ứng quy tắc xuất xứ nhưng thiếu chứng từ. Nguyên liệu C nhập khẩu từ Hoa Kỳ.

Khi tính tỷ lệ giá trị khu vực (RVC) của hàng hóa X, chỉ nguyên liệu A được cộng vào công thức tính. Nguyên liệu B vẫn bị coi là nguyên liệu không có xuất xứ dù nhập khẩu từ một nước thành viên RCEP, tương tự nguyên liệu C.

Sơ đồ ba nguyên liệu: nguyên liệu A nhập từ Nhật Bản đáp ứng quy tắc xuất xứ và có chứng từ nên được cộng gộp; nguyên liệu B nhập từ Trung Quốc đáp ứng quy tắc nhưng thiếu chứng từ nên không được cộng gộp; nguyên liệu C nhập từ Hoa Kỳ bị coi là không có xuất xứ nên không được cộng gộp
Ví dụ của Bộ Công Thương về nguyên liệu được và không được cộng gộp khi xác định xuất xứ RCEP của hàng hóa X. — Ảnh minh hoạ AI

Việc cần làm từ khâu nhập nguyên liệu

Theo Bộ Công Thương, doanh nghiệp cần quan tâm đến chứng từ xuất xứ ngay từ khâu nhập nguyên liệu sản xuất. Việc chỉ xác định nguyên liệu được nhập khẩu từ một nước thành viên là chưa đủ để nguyên liệu đó được công nhận khi tính xuất xứ theo hiệp định.

Bài viết nêu bốn việc doanh nghiệp cần làm:

  1. Lấy chứng nhận xuất xứ RCEP cho nguyên liệu để có cơ sở cộng gộp khi xác định xuất xứ của hàng hóa sau này.
  2. Lưu giữ đầy đủ hồ sơ về nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất, chứng từ mua bán và các tài liệu chứng minh xuất xứ, theo luật sư Lê Anh Văn, Tổng thư ký Hiệp hội Pháp chế doanh nghiệp Việt Nam.
  3. Tạo hồ sơ xuất xứ ngay từ khi mua nguyên liệu, không đợi đến khi hàng nằm ở cảng, theo ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam.
  4. Lập "bản đồ FTA" cho từng thị trường gồm sản phẩm, mã HS, thuế suất MFN, thuế suất theo RCEP và các hiệp định khác, quy tắc xuất xứ thuận lợi nhất và nguồn nguyên liệu cần chọn, cũng theo ông Hoài.

Giá trị của cộng gộp với hàng Việt

Theo Bộ Công Thương, mức ưu đãi thuế quan của các đối tác trong RCEP hầu như không cao hơn mức ưu đãi Việt Nam đang được hưởng từ các hiệp định thương mại tự do đã ký với những đối tác này. Vì vậy, quy tắc cộng gộp xuất xứ là một trong những lợi ích lớn của RCEP so với các hiệp định ASEAN+, do phạm vi nguyên liệu có xuất xứ được mở rộng đến tất cả các thành viên RCEP.

Hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thuỷ cho rằng doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn hạn chế về năng lực quản lý xuất xứ và thiếu nhân lực am hiểu luật pháp quốc tế. Theo ông, đây là khó khăn cần được quan tâm để doanh nghiệp tận dụng hiệu quả hơn các ưu đãi.

Nội dung dựa theo hai bài của Bộ Công Thương. Bài chưa đối chiếu toàn văn Thông tư số 05/2022/TT-BCT và tình trạng sửa đổi hiện hành của thông tư này.

Ảnh đại diện của bài là ảnh minh hoạ do AI tạo.

Nguồn tham khảo