Bỏ qua điều hướng

Quảng cáo dùng từ khẳng định vị thế dẫn đầu phải nêu rõ tài liệu chứng minh

Thông tư số 12/2026/TT-BVHTTDL, có hiệu lực từ ngày 5/7/2026, quy định hai loại tài liệu hợp pháp chứng minh khi quảng cáo dùng các từ "nhất", "duy nhất", "tốt nhất", "số một", và yêu cầu ghi rõ tên, số, ký hiệu, thời gian của tài liệu trên sản phẩm quảng cáo.

  • 16 tháng 10, 2026
  • Ban Biên tập ACT
  • 4 phút đọc

Ngày 22/5/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 12/2026/TT-BVHTTDL quy định chi tiết một số điều của Luật Quảng cáo và Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Quảng cáo. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 5/7/2026.

Thông tư gồm 3 chương, 9 điều.

Một nội dung chính là quy định chi tiết khoản 11 Điều 8 Luật Quảng cáo về từ ngữ có ý nghĩa tương tự và tài liệu hợp pháp chứng minh.

Từ ngữ thuộc diện phải chứng minh

Thông tư áp dụng với hoạt động quảng cáo sử dụng các từ ngữ "nhất", "duy nhất", "tốt nhất", "số một" hoặc các từ ngữ có ý nghĩa tương tự. Đối tượng áp dụng gồm cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động quảng cáo này.

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, từ ngữ có ý nghĩa tương tự là các từ, cụm từ bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài khẳng định vị thế dẫn đầu, tính độc bản hoặc tính tuyệt đối của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.

Tổ chức, cá nhân dùng các từ ngữ này trong quảng cáo phải có tài liệu hợp pháp chứng minh, theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên.

Hai loại tài liệu được chấp nhận

Loại thứ nhất là kết quả khảo sát thị trường của tổ chức được thành lập và hoạt động hợp pháp, có chức năng nghiên cứu thị trường.

Loại thứ hai là giấy chứng nhận do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp tại các cuộc thi, triển lãm, giải thưởng quy mô toàn quốc, khu vực hoặc quốc tế. Giấy chứng nhận này phải công nhận sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ là "nhất", "duy nhất", "tốt nhất", "số một" hoặc có ý nghĩa tương tự.

Các tài liệu chỉ được sử dụng khi bảo đảm tính độc lập, khách quan, trung thực, không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.

Cách thể hiện tài liệu trên sản phẩm quảng cáo

Sản phẩm quảng cáo phải thể hiện rõ ràng, chính xác tên tài liệu, số, ký hiệu và thời gian công bố kết quả khảo sát thị trường hoặc thời gian cấp giấy chứng nhận.

Thời gian sử dụng các tài liệu này trên sản phẩm quảng cáo phải phù hợp với thời hạn của giấy chứng nhận hoặc kết quả khảo sát thị trường.

Sơ đồ bốn ô: kết quả khảo sát thị trường của tổ chức có chức năng nghiên cứu thị trường; hoặc giấy chứng nhận tại cuộc thi, triển lãm, giải thưởng toàn quốc, khu vực, quốc tế; ghi rõ tên tài liệu, số, ký hiệu, thời gian công bố hoặc cấp; chỉ dùng trong thời hạn của tài liệu
Tài liệu chứng minh và cách thể hiện khi quảng cáo dùng các từ "nhất", "số một" theo Thông tư số 12/2026/TT-BVHTTDL. — Ảnh minh hoạ AI

Đề nghị thẩm định sản phẩm quảng cáo

Tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi yêu cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo đến cơ quan chủ trì tham mưu quản lý nhà nước về quảng cáo ở trung ương, theo mẫu kèm theo Thông tư.

Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan này thành lập Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo để tổ chức thẩm định. Kết quả được trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành kết luận về sự phù hợp của sản phẩm quảng cáo với quy định pháp luật.

Hội đồng do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định thành lập, có số thành viên là số lẻ và ít nhất 5 thành viên. Phiên họp của Hội đồng chỉ được tiến hành khi có trên 3/4 số thành viên tham dự, trong đó bắt buộc có Chủ tịch Hội đồng.

Văn bản hết hiệu lực

Từ ngày Thông tư số 12/2026/TT-BVHTTDL có hiệu lực, Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL hết hiệu lực.

Một số điều của các Thông tư số 13/2023/TT-BVHTTDL, 21/2025/TT-BVHTTDL và 09/2025/TT-BVHTTDL cũng hết hiệu lực từ thời điểm này.

Ảnh đại diện của bài là ảnh minh hoạ do AI tạo.

Nguồn tham khảo

Bài viết liên quan