Bỏ qua điều hướng

Từ 1/1/2027, hàng ghi xuất xứ Việt Nam phải đạt tiêu chí của Nghị định 384/2026

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã ký Nghị định 384/2026/NĐ-CP về xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/1/2027, đặt tiêu chí xuất xứ thuần túy, không thuần túy và hàm lượng giá trị Việt Nam tối thiểu 30%.

  • 12 tháng 10, 2026
  • Ban Biên tập ACT
  • 6 phút đọc

Nghị định số 384/2026/NĐ-CP quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước, do Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký thay mặt Chính phủ, theo Báo điện tử Chính phủ đăng ngày 10/10/2026. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.

Văn bản điều chỉnh hàng hóa có xuất xứ, hàng hóa có xuất xứ thuần túy, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy, công đoạn gia công, chế biến đơn giản, yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đối tượng phải tuân thủ là thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện xuất xứ Việt Nam trên nhãn hàng hóa hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa.

Hai nhóm hàng hóa có xuất xứ Việt Nam

Theo Nghị định, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam khi thuộc nhóm xuất xứ thuần túy hoặc nhóm xuất xứ không thuần túy. Trong trường hợp cần thiết, bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng quy định riêng cho mặt hàng có tính chất đặc thù thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm phù hợp với Nghị định.

Sơ đồ hai thẻ cạnh nhau: bên trái nhóm xuất xứ thuần túy gồm cây trồng, động vật và khoáng sản tại Việt Nam; bên phải nhóm xuất xứ không thuần túy gồm chuyển đổi mã số hàng hóa và hàm lượng giá trị Việt Nam tối thiểu 30%
Hai nhóm hàng hóa có xuất xứ Việt Nam theo Nghị định 384/2026/NĐ-CP. — Ảnh minh hoạ AI

Nhóm xuất xứ thuần túy gồm cây trồng và sản phẩm từ cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam, động vật sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam và sản phẩm từ các động vật đó. Nhóm này còn có khoáng sản và chất sản sinh tự nhiên lấy từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Việt Nam, cùng sản phẩm đánh bắt từ vùng biển cả bằng tàu đăng ký ở Việt Nam và được phép treo cờ Việt Nam.

Vật phẩm thu được trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng ở Việt Nam, hiện không còn thực hiện được chức năng ban đầu, cũng thuộc nhóm này. Nghị định nêu thêm các trường hợp săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng và thu lượm tại Việt Nam.

Tiêu chí với hàng hóa xuất xứ không thuần túy

Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp Nghị định liệt kê. Hai tiêu chí chính là chuyển đổi mã số hàng hóa và hàm lượng giá trị Việt Nam (VVC) tối thiểu 30%, xác định theo một trong hai công thức. Báo điện tử Chính phủ và VTV không nêu nội dung hai công thức bằng chữ, nên doanh nghiệp cần đối chiếu toàn văn Nghị định khi tính.

Trị giá của vật liệu đóng gói và bao bì chứa đựng hàng hóa, nếu là một phần cấu thành hàng hóa, được tính vào hàm lượng VVC. Thương nhân lựa chọn công thức trực tiếp hoặc công thức gián tiếp và áp dụng trong năm tài chính.

Với hàng hóa thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ số, các công đoạn tạo giá trị thực hiện tại Việt Nam được tính vào hàm lượng VVC. Danh mục gồm chi phí nghiên cứu, phát triển, chi phí thiết kế, lập trình, số hóa, tự động hóa và chi phí thử nghiệm kỹ thuật, kiểm thử phần mềm gắn liền với quy trình tạo ra sản phẩm. Quy định về công đoạn gia công, chế biến đơn giản tại khoản 2 Điều 7 và về yếu tố không được xem xét tại Điều 8 không áp dụng đối với nhóm hàng này.

Trách nhiệm của doanh nghiệp

Thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện xuất xứ Việt Nam phải tuân thủ pháp luật về ghi nhãn hàng hóa, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các quy định liên quan khác. Họ chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin đã công bố.

Nghị định yêu cầu lưu trữ hồ sơ, chứng từ chứng minh xuất xứ hàng hóa, gồm hóa đơn đầu vào, bảng kê nguyên vật liệu, mô tả quy trình sản xuất và các tài liệu liên quan khác, để phục vụ thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền. Việc lưu trữ dưới dạng dữ liệu điện tử và văn bản thực hiện theo pháp luật về kế toán và pháp luật về lưu trữ.

Khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, thương nhân, tổ chức, cá nhân phải chứng minh hàng hóa có xuất xứ Việt Nam theo Nghị định. Với hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước rồi được xuất khẩu, họ còn phải tuân thủ pháp luật Việt Nam về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu và quy định của nước nhập khẩu.

Bối cảnh ban hành

Trước đó, Bộ Công Thương có Tờ trình số 4153/TTr-BCT ngày 06/6/2026 trình Chính phủ về việc xây dựng nghị định quy định tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước, theo Tạp chí Công Thương. Theo tờ trình, quy định xuất xứ đã ban hành chỉ áp dụng cho hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu, còn tiêu chí xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước chưa được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật.

Tờ trình nêu một số sản phẩm chỉ trải qua các công đoạn gia công, lắp ráp, chế biến đơn giản, không làm thay đổi cơ bản tính chất hàng hóa, vẫn được doanh nghiệp tự gắn nhãn xuất xứ Việt Nam. Các cơ quan chức năng khi đó không có căn cứ hay chế tài để xử lý.

Quy định chuyển tiếp

Hàng hóa có nhãn thể hiện xuất xứ Việt Nam theo đúng quy định pháp luật trước thời điểm Nghị định có hiệu lực được tiếp tục sử dụng nhãn đó đến khi hàng hóa hết hạn sử dụng. Báo điện tử Chính phủ không nêu ngày ban hành Nghị định và không đề cập mức xử phạt.

Nguồn tham khảo

Ảnh: baochinhphu.vn — nguồn: https://baochinhphu.vn/quy-dinh-xac-dinh-xuat-xu-viet-nam-doi-voi-hang-hoa-san-xuat-luu-thong-trong-nuoc-10226101016284845.htm