Bỏ qua điều hướng

Doanh nghiệp tự vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc phải công bố hợp chuẩn

Điều 23 Nghị định 37/2026/NĐ-CP yêu cầu hệ thống truy xuất nguồn gốc do tổ chức, cá nhân sử dụng phải được công bố hợp chuẩn, dùng mã truy vết theo TCVN 13274, vật mang dữ liệu theo TCVN 13275 và ghi nhận đủ chín nhóm thông tin về sản phẩm.

  • 30 tháng 10, 2026
  • Ban Biên tập ACT
  • 5 phút đọc

Nghị định 37/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Điều 23 của nghị định đặt yêu cầu với hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa để bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Theo cổng thông tin Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nghị định giao Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý nhà nước về hoạt động truy xuất nguồn gốc. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với các bộ quản lý ngành tổ chức kiểm tra truy xuất nguồn gốc tại địa phương.

Bốn nguyên tắc của hệ thống

Khoản 1 Điều 23 nêu bốn nguyên tắc. Nguyên tắc chia sẻ dữ liệu cho phép các bên chia sẻ theo một trong các mô hình: một bước trước, một bước sau; tập trung; tích lũy; mạng lưới hoặc phân tán.

Nguyên tắc sẵn có của phần tử dữ liệu chính yêu cầu các dữ liệu chính được thu thập, lưu trữ và cập nhật kịp thời về các sự kiện quan trọng trong sản xuất và chuỗi cung ứng.

Nguyên tắc minh bạch yêu cầu hệ thống dùng dữ liệu tĩnh về khách hàng, bên cung ứng, sản phẩm và điều kiện sản xuất. Nguyên tắc cuối cùng đòi hỏi hệ thống có sự tham gia của đầy đủ các bên truy xuất nguồn gốc.

Mã truy vết và vật mang dữ liệu theo tiêu chuẩn quốc gia

Tổ chức, cá nhân thực hiện truy xuất nguồn gốc dùng mã truy vết sản phẩm, mã truy vết địa điểm phải phù hợp tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13274 về định dạng các mã dùng trong truy vết.

Vật mang dữ liệu truy xuất nguồn gốc phải phù hợp tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13275 về định dạng vật mang dữ liệu. Thông tin giải mã từ vật mang dữ liệu phải gồm tối thiểu các nhóm thông tin mà hệ thống bắt buộc ghi nhận.

Sơ đồ bốn bước dữ liệu truy xuất nguồn gốc: ghi nhận sự kiện trọng yếu trong chuỗi cung ứng; gán mã truy vết sản phẩm, địa điểm theo TCVN 13274; đưa dữ liệu lên vật mang dữ liệu theo TCVN 13275; kết nối Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc quốc gia. Nguồn: Điều 23 Nghị định 37/2026/NĐ-CP
Bốn khâu của dữ liệu truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn áp dụng ở từng khâu theo Điều 23 Nghị định 37/2026/NĐ-CP. — Ảnh minh hoạ AI

Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), cho biết Thông tư 31/2026/TT-BCT về truy xuất nguồn gốc hàng hóa thuộc Bộ Công Thương kế thừa yêu cầu về hai tiêu chuẩn này.

Công bố hợp chuẩn, hợp quy

Hệ thống truy xuất nguồn gốc do tổ chức, cá nhân sử dụng phải bảo đảm đầy đủ quá trình truy xuất theo tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài hoặc tiêu chuẩn cơ sở. Hệ thống phải được công bố hợp chuẩn theo pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Trường hợp có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hệ thống truy xuất nguồn gốc, tổ chức, cá nhân phải công bố hợp quy.

Thông tin hệ thống phải ghi nhận

Khoản 5 Điều 23 liệt kê dữ liệu truy xuất nguồn gốc của sản phẩm trong hệ thống:

  • tên sản phẩm, hàng hóa và hình ảnh sản phẩm;
  • tên và địa chỉ đơn vị sản xuất, kinh doanh;
  • xuất xứ sản phẩm, hàng hóa;
  • các sự kiện theo dõi trọng yếu và thời gian diễn ra trong chuỗi cung ứng, theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12850 hoặc tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc toàn cầu của GS1;
  • thương hiệu, nhãn hiệu, số lô, mẻ hoặc số sê-ri sản phẩm, nếu có;
  • hạn sử dụng, nếu có;
  • các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng.

Hệ thống muốn kết nối với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia phải có tối thiểu các thông tin trên. Phần dữ liệu cho người tiêu dùng tra cứu trên cổng quốc gia gồm các thông tin này, trừ sự kiện trọng yếu và tiêu chuẩn áp dụng.

Khi nào phải kết nối với cổng quốc gia

Dữ liệu truy xuất nguồn gốc được kết nối, chia sẻ với cổng quốc gia trong hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao thuộc danh mục và lộ trình truy xuất bắt buộc do bộ quản lý ngành, lĩnh vực công bố. Trường hợp thứ hai là tổ chức, cá nhân đăng ký kết nối tự nguyện.

Thời gian lưu trữ dữ liệu tối thiểu với từng loại sản phẩm do bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định.

Với hàng hóa thuộc Bộ Công Thương, theo ông Trần Hữu Linh, doanh nghiệp không nhất thiết phải đầu tư hệ thống riêng mà có thể đăng ký, khai báo thông tin sản phẩm trực tiếp trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa VeriGoods.vn của bộ. Doanh nghiệp đã có hệ thống riêng có thể kết nối, chia sẻ dữ liệu theo yêu cầu kỹ thuật.

Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đã lập đường dây nóng tiếp nhận phản ánh, kiến nghị và giải đáp vướng mắc của địa phương, doanh nghiệp khi triển khai truy xuất nguồn gốc. Theo ông Trần Hữu Linh, dữ liệu truy xuất nguồn gốc không đồng nghĩa với việc chứng nhận sản phẩm đạt chất lượng hoặc tuyệt đối an toàn.

Ảnh đại diện của bài là ảnh minh hoạ do AI tạo.

Nguồn tham khảo